03:10 EDT Thứ sáu, 20/10/2017

Danh Mục

Liên kết

Website Bộ giao thông vận tải
Bộ thủ tục hành chính GTVT
Website Kien Giang
Cong bao dien tu Kien Giang

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 39

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 38


Hôm nayHôm nay : 3979

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 96275

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 2679591

Trang nhất » Danh Mục » TIN HOẠT ĐỘNG NGÀNH

Kết quả về Kết quả về xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông tỉnh Kiên Giang

Chủ nhật - 01/02/2015 04:36
Kết quả về xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông tỉnh Kiên Giang theo Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI về xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX.
(ảnh: Lễ thông xe cầu 3/2 thành phố Rạch Giá)

(ảnh: Lễ thông xe cầu 3/2 thành phố Rạch Giá)

Kiên Giang là tỉnh ven biển, nằm ở phía Tây Nam của tổ quốc thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích tự nhiên 6.346 km2, với địa hình đa dạng, có đồng bằng, sông núi, có hệ sinh thái biển, rừng phong phú và đa dạng, có quỹ đất màu mỡ, dồi dào và khí hậu ôn hòa, có khoảng 147 đảo lớn nhỏ, bờ biển dài hơn 200km, có thềm lục địa, lãnh hải và ngư trường rộng lớn…, trong đó Phú Quốc là đảo lớn nhất cả nước. Với vị trí và điều kiện tự nhiên đã tạo cho Kiên Giang nhiều tiềm năng và lợi thế to lớn để phát triển kinh tế - xã hội, phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp, kinh tế biển, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến nông - thủy sản; và nhiều tài nguyên du lịch cảnh quan, văn hoá, lịch sử,... để phát triển dịch vụ - du lịch; với vị thế là cửa ngõ hướng ra biển Tây và thông ra vịnh Thái Lan của vùng đồng bằng sông Cửu Long, có đường biên giới tiếp giáp với Campuchia trên 56km với 02 cửa khẩu là cửa khẩu quốc tế Hà Tiên, cửa khẩu Quốc gia Giang Thành là điều kiện thuận lợi để mở rộng giao lưu và trao đổi kinh tế với các nước trong khu vực Đông Nam Á và Vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long.
Tuy nhiên, hệ thống giao thông được đầu tư trong giai đoạn đến năm 2010 chỉ tập trung vào việc khôi phục, cải tạo nâng cấp là chính, quy mô thiếu đồng bộ, còn nhiều hạn chế về quy hoạch, vốn đầu tư, trang thiết bị và năng lực quản lý khai thác…; hệ thống giao thông đường xã, tình trạng đường xấu và rất xấu còn khá lớn (đường xấu là 1.160 km, chiếm 18%; đường rất xấu là 5.500 km, chiếm  64 %), vẫn còn một số xã chưa có đường ô tô đến trung tâm hoặc thường xuyên bị ách tắc giao thông trong mùa mưa bão, các tuyến ô tô chở khách chưa thể vươn đến hết các xã; giao thông trên các đảo lớn như: Phú Quốc, Hòn Tre, Lại Sơn đã được quan tâm đầu tư, bê tông hóa một số tuyến đường chính và phần lớn đường trên đảo có mặt đường cấp thấp; các đầu mối giao thông đường thủy, hệ thống cảng chỉ là cầu tàu tạm; các bến thủy nội địa trên địa bàn các huyện, thị, thành phố có năng lực khai thác và hệ thống phao tiêu, báo hiệu hạn chế.
Là cơ quan tham mưu cho UBND tỉnh Kiên Giang, Sở Giao thông vận tải thường xuyên phối hợp với các Ban Quản lý dự án và cơ quan chuyên môn thuộc Bộ Giao thông vận tải, Tổng Cục Đường bộ Việt Nam triển khai đầu tư nâng cấp hệ thống cầu, đường quốc lộ do Trung ương quản lý, gồm: Dự án đường Hành lang ven biển phía Nam (giai đoạn 1), trong đó : Đoạn tuyến tránh qua thành phố Rạch Giá hoàn thành 21,3km; đoạn cửa khẩu Xà Xía – Hà Tiên 4,36 km và hoàn thành thông xe cầu Cái Bé và cầu Cái Lớn; triển khai đoạn tuyến Minh Lương – Thứ Bảy – Ngã Bát dài 47km; triển khai xây dựng nâng cấp mở rộng đạt tiêu chuẩn đường cấp III tuyến Quốc lộ 61 đoạn Cái Tư – Bến Nhứt dài 26,7km; kè gia cố 51km lề đường Quốc lộ 63. Cảng An Thới - Phú Quốc gồm hai khu vực là cảng đầu mối (cảng chính) và khu cảng chuyển tải (bến phao) để xếp dỡ hàng hóa, năng lực hàng hóa thông qua cảng khoảng 280.000 tấn/năm và 440.000 hành khách/năm. Xây dựng hoàn thành sân bay quốc tế Dương Tơ, Phú Quốc, đưa vào khai thác với tiêu chuẩn kỹ thuật là cấp 4F (theo tiêu chuẩn ICAO) có khả năng tiếp nhận các loại máy bay hiện đại hoạt động, như Boeing 777, Boeing 747-400 và tương đương. Nạo vét đưa vào cấp kỹ thuật, đảm bảo chạy tàu 24/24h trục ngang chính qua địa bàn tỉnh : tuyến TP Hồ Chí Minh –  Hà Tiên qua Đồng Tháp Mười, hiện đại hoá hệ thống phao tiêu đối với các tuyến đường thuỷ quốc gia trên địa bàn.
Tổ chức xây dựng 139km/248km hệ thống đường trục, đường vòng quanh đảo, các tuyến đường nhánh trên đảo Phú Quốc, cầu Nguyễn Trung Trực thị trấn Dương Đông, huyện Phú Quốc. Xây dựng hoàn thành các công trình dự án trọng điểm trên địa bàn thành phố Rạch Giá như cầu đường 3/2, cầu An Hòa và cầu Rạch Sỏi với chiều dài 03 cầu 543m. Hoàn thành 37km đường và bến cập tàu trên xã đảo Hòn Tre, đảo Lại Sơn và xã đảo An Sơn. Đầu tư xây dựng nhựa hóa đường về trung tâm xã, với 261km đường; 94 cầu/2500m dài được đầu tư xây dựng, với tổng mức đầu tư 1.054 tỷ đồng, đến cuối năm 2014 nâng cấp nhựa hóa đường từ huyện đến trung tâm 101 xã/103 xã trong đất liền được nhựa hóa, đạt tỷ lệ 98% ; trong 4 năm (2011-2014) tỉnh Kiên Giang đã đầu tư 864 tỷ đồng xây dựng mới 1.924km đường giao thông nông thôn, kết cấu mặt đường bằng bê tông xi măng.
Qua hơn 03 năm thực hiện Nghị quyết số 16/NQ-CP ngày 08/6/2012 của Chính phủ và Kế hoạch số 51-KH/TU ngày 26/4/2012 của Tỉnh ủy Kiên Giang về thực hiện Nghị Quyết số 13-NQ/TW ngày 16/01/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI về “Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020”. Cơ sở hạ tầng giao thông đã có bước chuyển biến mạnh mẽ, hệ thống giao thông ngày càng được phát triển thành một mạng lưới giao thông thông suốt từ nông thôn đến hệ thống giao thông quốc gia, góp phần kết nối vận tải, rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị; đồng thời, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, nâng cao đời sống của nhân dân, đáp ứng cơ bản sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh nhà; thực hiện các khâu đột phá chiến lược, trong đó có một số công trình trọng điểm, then chốt hoàn thành đã tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh được củng cố và tăng cường.
Kết quả đầu tư phát triển giao thông nông thôn đã thúc đẩy phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn, ổn định đời sống, tăng cường khả năng phòng chống thiên tai, hạn chế thiệt hại khi có lũ; đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế ; giải quyết hiệu quả các vấn đề văn hóa, xã hội (như đời sống, sản xuất, việc làm…); khắc phục các trở ngại về vấn đề tiếp cận giao thông, tạo điều kiện giao lưu hàng hóa và đảm bảo tiêu chí về xây dựng nông thôn mới về giao thông.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, vẫn còn một số tồn tại, hạn chế và một số khó khăn trong triển khai thực hiện. Kế hoạch vốn đầu tư hàng năm thiếu nhiều so với nhu cầu đầu tư xây dựng cơ bản các công trình đường tỉnh, huyện và giao thông nông thôn; nhiều đường tỉnh chưa được triển khai thực hiện như: Đường tỉnh 970B (Đường T3), Đường tỉnh 972 (Tỉnh lộ 28), Đường tỉnh 966 (Thứ Hai – Công Sự), Đường tỉnh ĐT974 (Suối Cái – Rạch Vẹm – Gành Dầu). Sự phối hợp giữa các ngành và địa phương còn nhiều hạn chế trong công tác giải phóng mặt bằng đã ảnh hưởng đến tiến độ thi công các công trình, phát sinh chi phí đầu tư, chậm đưa vào khai thác sử dụng, làm giảm hiệu quả đầu tư; một số công trình dự án trọng điểm Trung ương đầu tư trên địa bàn thiếu vốn đối ứng cho công tác giải phóng mặt bằng cũng làm giảm tiến độ thi công các dự án sử dụng vốn vay ODA.
Mục tiêu tổng quát 5 năm (2016 – 2020):
Tiếp tục tham mưu trình UBND tỉnh Kiên Giang kế hoạch phát triển kết cấu hạ tầng giao thông 5 năm (2016 – 2020), thực hiện 3 đột phá trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011-2020 về: Tập trung xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn. Về hạ tầng giao thông, bảo đảm kết nối các trung tâm kinh tế lớn với nhau và với các đầu mối giao thông cửa ngõ bằng hệ thống giao thông đồng bộ, năng lực vận tải được nâng cao, giao thông được thông suốt, an toàn. Trong đó :
Về đường bộ, ưu tiên đầu tư nâng cấp, mở rộng các tuyến quốc lộ qua địa bàn tỉnh. Nâng cấp một số tuyến giao thông đường tỉnh, đường huyện thiết yếu.  Lựa chọn đầu tư những đoạn có hạ tầng yếu kém trên tuyến đường ven biển gắn với đê biển.
Về đường thủy nội địa, nâng cấp các tuyến đường thuỷ nội địa chính; tăng chiều dài các đoạn tuyến sông được quản lý khai thác. Nâng cấp và xây dựng mới một số cảng đầu mối, bến hàng hoá và hành khách trên địa bàn.
Về cảng biển quốc gia, rà soát, điều chỉnh quy hoạch, tiếp tục đầu tư phát triển hệ thống cảng biển quốc gia, các cảng cửa ngõ quốc tế trên đảo Phú Quốc, các bến, cảng nước sâu.
Nâng cao chất lượng dịch vụ và giảm chi phí vận tải, bảo đảm trật tự an toàn giao thông và bảo vệ môi trường, đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu vận tải hàng hóa, hành khách và tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, góp phần quan trọng thực hiện phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh./.

Tác giả bài viết: Huy Hiệp

Nguồn tin: www.kiengiang.gov.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thông tin cần biết

Lịch sát hạch
Uỷ ban An Toàn Giao thông Quôc gia
Logo An toàn giao thông
Dịch vụ công cấp độ 3 cấp đổi GPLX
Dịch vụ công cấp độ 4 cấp đổi Giấy kinh doanh vận tải phù hiệu
dang kiem
Logo và màu sơn xe Taxi
Logo Học tập và làm theo HCM

ĐIỂM TIN